Sưu tầm Nghệ thuật Đương Đại, tại sao không?

Tư gia của Adam Lindemann với nhiều tác phẩm sưu tập giá trị
(tường bên phải là bức Vô đề, Jean-Michel Basquiat, 1982)

Năm ngoái, tôi có dịp đến thăm Dharamsala, Ấn Độ, quê hương của Đức Đạt Lai Lạt Ma, cùng với cựu giáo sư Robert Thurman, một người bạn, cũng là học giả nổi tiếng về Ấn Độ – Tây Tạng. Trong khi nghe thuyết giảng về giáo lý Phương Đông và pháp thiền định cùng nhiều người phương Tây và các nhà sư, cố gắng đạt được phúc hạnh, đột nhiên trong tôi tràn ngập những suy tư về việc sưu tầm nghệ thuật. Đó là điều bạn mong muốn, một căn bệnh, một dạng duy vật chủ nghĩa thô thiển, một nỗi ám ảnh hay đam mê ? Có rất nhiều người – cũng như tôi – không bao giờ có thể đạt tới sự giác ngộ tâm linh nhưng vẫn tiếp tục tìm kiếm những đồ tạo tác nghệ thuật tuyệt đẹp, hoặc không đẹp – những thứ mang tới cho ta niềm hoan lạc – một cảm thức siêu việt ta nhận được khi đứng trước một kiệt tác thực sự. Nghệ thuật luôn là một phần đời tôi, nhưng tôi không thực sự coi các tác phẩm như những khoản đầu tư hay những vật phẩm có giá trị để sưu tầm, mà chỉ là một phần trong công cuộc tự đào tạo mình.

Cùng lớn lên ngay bên cạnh Bảo tàng Guggenheim, nhiều bạn bè thời thơ ấu của tôi đều là con cái nghệ sĩ cả, ví dụ như Leon Golub, hoặc thuộc dòng dõi buôn bán nghệ thuật, như Allen Frumkin. Đến tuổi đôi mươi, tôi đã dành nhiều thời gian cho Studio 54, nơi mà cô bạn gái giới thiệu với tôi đó là “thế giới của Andy”. Trong chuyến viếng thăm đầu tiên tới Factory (xưởng vẽ của Warhol), Warhol đã sốt sắng giới thiệu với chúng tôi tác phẩm của một hoạ sĩ trẻ tên là Jean-Michel Basquiat, người vừa cùng ông hoàn thành một loạt các bức tranh vẽ chung. Lúc đó, tôi còn khá ‘ú ớ’ với nghệ thuật đương đại, nên thấy các bức tranh của Basquiat có vẻ được vẽ hơi tùy tiện; chưa kể trên chiếc ghế sofa trong phòng, tôi nhận ra chàng Basquiat đang nằm ườn ra và ngủ say như chết. Sau đó, trong lúc tất cả chúng tôi cùng đi xem buổi biểu diễn “Victory Tour” của Michael Jackson tại công viên Madison Square Garden, Jean-Michel còn ‘chơi’ chút bồ đà. Giống như rất nhiều người trong thế hệ chúng tôi, tôi đã bị mê hoặc bởi sự hiện diện của Michael – chiếc găng tay có chữ ký và chiếc mũ nổi tiếng của ông. Tôi cũng đã bị cuốn hút trong bầu không khí cuồng nhiệt của thế giới nghệ thuật thập niên 1980 – một thế giới mà Andy và Jean-Michel là những nhân vật hấp dẫn không kém gì “Ông Hoàng Nhạc Pop”. Trong những ngày đó, tôi thường tự hỏi mình có thể mua những món nào của Warhol và Basquiat. Vả lại, tất cả những gì tôi có thể phô ra từ quá khứ ‘đánh đu’ với nghệ thuật không mấy vẻ vang của mình là chiếc áo T- shirt được Andy ký và tặng cho tôi trong một dịp sinh nhật. Nhiều năm sau, tôi đã tìm thấy nó, đóng khung rồi tự hào treo nó lên trong phòng tắm.

Sau đó, tôi bắt đầu sưu tầm một cách nghiêm túc hơn nhiều, nhất là sau khi được bạn tôi, Bernard de Grunne, giới thiệu về nghệ thuật châu Phi và châu Đại dương ở Đại học Yale. Bạn tôi có bằng tiến sĩ về nghệ thuật châu Phi, sau đó tiếp tục phụ trách bộ phận nghệ thuật châu Phi và châu Đại dương tại nhà đấu giá Sotheby’s. Theo lời khuyên của ông, tôi bắt đầu sưu tầm những kiệt tác châu Phi vĩ đại, ví dụ như các nghệ phẩm của các bộ lạc Fang và Songye, đặc biệt là những pho tượng mô tả những ‘nhân vật quyền lực’ dữ tợn và đáng sợ. Tôi rất thích các tác phẩm đó, đặc biệt là những thứ của Công-gô như thể đi thẳng ra từ cuốn tiểu thuyết “Heart of Darkness” (Trái tim tăm tối) của Joseph Conrad. Nhưng thế vẫn chưa đủ; vẫn còn thiếu một cái gì đó: Tôi vẫn chưa có đủ sự phấn khích đối với nghệ thuật và các nghệ sĩ của thời đó.

Adam Lindemann tại phòng làm việc

Thói quen sưu tầm Nghệ thuật Đương đại một cách bền bỉ của tôi bắt đầu từ lúc Peter Brant – một người chuyên xuất bản tạp chí và cũng là một nhà sưu tập sành sỏi, giới thiệu tôi với Julian Schnabel, người sau đó đã quyên tiền để khởi động bộ phim thứ hai của ông, “Before Night Falls” (Trước khi sập tối), và ông đã đề nghị tôi mua một trong những ‘kiệt tác vĩ đại nhất’ của mình với một cái giá rất rẻ so với giá trị thực của nó: chỉ 400.000 đôla. Tôi thích tác phẩm đó, nhưng không thể hình dung nổi phải lấy tiền ở đâu để chi vào việc này, vì vậy tôi đã làm tất cả những gì mà một kẻ mới sưu tầm có thể làm: Tôi đi tìm một ai đó để hỏi ý kiến. Lần này là một người bạn của cha tôi, một nhà sưu tập nghệ thuật hiện đại rất nổi tiếng (ông sưu tầm cả các tác phẩm Biểu hiện Trừu tượng, Tối giản cho tới Pop-Art). Ông phản ứng rất mạnh: “Schnabel ư, cậu có đùa không đấy, chớ có đụng vào!” Đương nhiên, tôi có một chút sợ hãi, vì vậy tôi mới kiểm tra lại các kỷ lục đấu giá tác phẩm của Schnabel và bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể nhận ra rằng tranh của ông trên thị trường đã gần như khan hiếm/cạn kiệt. Tuy nhiên, Julian kiên quyết không giảm giá. Tôi quyết định mua một bức nhỏ hơn, một tác phẩm ông mới vẽ gần đó; một bức tranh khá đẹp mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn thích nó. Tôi thích tranh của Schnabel và có lẽ nó cũng khó lạc hậu. Có một thực tế là, ngay lúc này, trông nó vẫn hấp dẫn, có tính trang trí và một chút hoài cổ. Một ngày nào đó, có lẽ ngay cả những ngôi sao của thập niên 1980 cũng sẽ nóng trở lại. Kinh nghiệm mang lại cho tôi một bài học vô giá: trong thị trường nghệ thuật, các ý kiến luôn luôn thay đổi liên tục; thiên tài của ngày hôm nay có thể là sự bối rối của ngày mai. Vì vậy, nếu bạn mua nó, việc mua đã trở thành một hành vi nhằm thỏa mãn cái nhu cầu của cá nhân thưởng thức nó hàng ngày, tại nhà.

Bài học tiếp theo đến với tôi khi tôi rụt rè bước vào thị trường tranh của Warhol hoặc được đi cùng với cựu nữ diễn viên từng đóng phim do Warhol đạo diễn, Baby Jane Holzer, đến thăm kho tài sản mà ông để lại. Anh trai tôi là George chỉ quan tâm đến các nghệ sĩ mới nổi và thích phát hiện ra những ngôi sao nghệ thuật tương lai. Mặt khác, tôi bị thuyết phục rằng nếu được chi “tiền tươi”, thì dĩ nhiên ta nên mua “thóc thật”. Điều đó có nghĩa là các tác phẩm nghệ thuật thực thụ thường được sản xuất bởi những người giờ đây đã mất, tức là chúng ta nên biết người họa sĩ đó đã vẽ được mấy bức tranh, và bức nào có giá trị lịch sử. Ngay sau khi tôi mua một hoặc hai tác phẩm của Warhol, tôi bắt đầu nhận được những lời khuyên, thường từ những người đã có kế hoạch cá nhân của riêng họ và những quyền lợi gắn liền với mỗi lời bình luận. “Ồ, thị trường đó quá nóng rồi, có thể không lên nữa đâu!” hoặc “Hãy quên đi, ông ta đã làm tới 300 bức như thế; nó không thể có giá tới 75.000 đôla đâu!” vân vân và vân vân. Tôi đã chấm dứt phi vụ này sau khi mua được khoảng một nửa số tác phẩm mà tôi muốn, và hầu như toàn là những món khá rẻ – đấy chính là sai lầm của tôi! Câu nói cũ “khẩu vị không phải là một chủ đề để bàn cãi” vẫn còn đúng; không phải ai cũng thích những thứ bạn thích. Mặt khác, nếu bạn đã từng muốn bán bức tranh mà bạn rất yêu quý, thì điều cần thiết đối với bạn là một người nào đó thích chính bức tranh đó, và như thế, bạn có quyền thích và người kia cũng có quyền không thích bức tranh.

Việc sưu tầm nghệ thuật của tôi ngày càng giúp tôi thỏa mãn hơn nhu cầu hiểu biết của mình; sở thích của tôi dần phát triển thành nỗi ám ảnh. Một ngày, khi đang nói chuyện với Philippe Segalot, cựu giám đốc Ban đương đại của nhà đấu giá Christie’s, cũng là một nhà tư vấn nghệ thuật ‘có sừng có mỏ’, thì xảy ra một chuyện đặc biệt thú vị. Segalot đề nghị tôi bán đi một vài tác phẩm cỡ nhỏ của Warhol để mua bức Rorschach lớn hơn, cũng của Warhol mà tôi đang để ý. Ông ấy đã đúng. Tại sao cứ giữ khư khư hàng đống đồ lặt vặt, mặc dù trong đó có những món rất sang trọng, trong khi bạn có cơ hội có được một kiệt tác? Nhưng sau đó, một lần nữa, tôi thực sự muốn có bức Tai nạn ô tô, bức Race Riot, và toàn bộ series Những gã đàn ông bị săn lùng nhiều nhất, những tác phẩm trước đó không lâu tôi được xem tại một cuộc triển lãm hồi cố của Warhol ở Berlin. Thật không may, những tác phẩm này không có sẵn để bán, và túi tiền cũng chưa cho phép tôi thửa chúng – ngay cả khi người ta bán chúng. Rút cuộc, tôi phải bán tất cả mọi thứ vì tôi nhận ra rằng mình cần thay đổi trọng tâm sưu tập, phải tập trung vào Nghệ thuật Đương đại; có như thế thì tôi mới có thể sưu tầm được các tác phẩm tốt nhất của bất cứ ai trong phạm vi túi tiền của mình. Vì vậy, tôi bắt đầu sưu tập Nghệ thuật Đương đại của các nghệ sĩ còn sống, những nghệ sĩ mới toe và thú vị. (Nói thêm: những tác phẩm của Warhol tôi đã không mua – vì có lẽ chúng quá đắt, trong đó có cả bức Car Crash khổ nhỏ, bức Last Supper xinh xắn, và bức Ghế Điện – đã tăng gấp đôi giá trị chỉ trong vòng hai năm; rõ ràng tôi cần phải bám theo ‘thính giác’ của mình chứ không phải căn cứ vào túi tiền.)

Bức Vô đề của Jean-Michel Basquiat bày tại Christie’s, New York

trong buổi họp báo trước hôm đấu giá chính thức ngày 10/5/2016

Điều gì khiến cho việc sở hữu nghệ thuật trở nên thú vị, hấp dẫn và quyến rũ? Phải chăng là vì bức tranh Jackie năm 1964 tôi treo trên tường kia đã tăng vọt giá từ 65.000 lên hơn 200.000 đôla chỉ trong một vài năm? Đối với tôi, câu trả lời là KHÔNG, và dĩ nhiên, cũng lại là CÓ. Điều thú vị là nó cho tôi cơ hội được thưởng thức một tác phẩm thú vị hàng ngày – một cuộc du lãm của ‘cái tôi’ và thói thích chiếm hữu (sở thích “được nhìn thấy những thứ mình có/mua”), và có lẽ quan trọng nhất là tôi đã thực hiện một hành vi ‘lựa chọn và mua tác phẩm’ – một quyết định mang tính thẩm mỹ cá nhân, qua đó, xác định cá tính và nhân cách của riêng mình trong toàn bộ bối cảnh lịch sử nghệ thuật. Tiền không phải là vấn đề cốt tử. Bất kể ngân sách của bạn có được bao nhiêu, không ai muốn chọn một bức tranh sẽ mất giá, và nếu giá trị thẩm định của tác phẩm đó tiếp tục tăng, điều đó nhắc nhở cho bạn nhớ rằng sự lựa chọn của bạn là thông thái, bạn đã chọn được một tác phẩm tốt, và thậm chí nếu bạn không bao giờ muốn bán, bức tranh luôn có vẻ có giá trị hơn khi có ai đó muốn trả giá gấp hai, ba hoặc gấp mười lần so với giá vốn ban đầu bạn đã bỏ ra để đầu tư vào nó.

Vì vậy, đấy là lý do tôi đã sưu tầm Nghệ thuật Đương đại, không phải vì đó mới ‘đáng’ gọi là nghệ thuật, cũng không phải vì tôi không đánh giá cao một tác phẩm tuyệt vời của Jackson Pollock, nhưng vì đây là chỗ tôi có cơ hội tốt nhất để có được một kiệt tác, một tác phẩm nghệ thuật khiến ta cảm thấy như đang được nói chuyện với một bậc trí giả uyên bác và thông tuệ.

Phạm Long

* Adam Lindemann là một nhà đầu tư và sưu tập gia nghệ thuật đương đại tên tuổi. Ông phụ trách chuyên mục nghệ thuật cho tờ The New York Observer từ tháng 12/2008. Ông cũng là chủ phòng tranh Venus Over Manhattan tại 980 Madison Avenue, New York. Ông là tác giả của hai cuốn sách gối đầu giường của các nhà sưu tập và giới kinh doanh nghệ thuật: “Collecting Design” và “Collecting Contemporary Art” đều do NXB Taschen ấn hành năm 2010. Bài viết này được trích dịch từ cuốn “Collecting Contemporary Art”. Đầu đề do Tạp chí Mỹ thuật đặt.

 

(*) Bài viết được đăng lại dưới sự đồng ý của Tạp chí Mỹ thuậttác giả

Nguồn: Phạm Long, “Sưu tầm Nghệ thuật Đương Đại, tại sao không?“, ngày 15 tháng Hai năm 2017